Cây nhội thần dược trị bệnh khí hư, trùng roi viêm âm đạo của chị em

Cây nhội được trồng lấy bóng mát ở nhiều đô thành tại Việt Nam, nhiều nhất ở Hà Nội. Còn thấy mọc hoang trong rừng. Cũng thấy mọc tại Ân Độ, MaLaixia, InĐônêxia, Châu Đại Dương.

Còn gọi là thu phong, ô dương, trọng dương mộc.

danh pháp khoa học Bischofia trifoliata (Roxb.) Hook.f. (Bischofia javanica Blume, Andrachne trifoliata Roxb.) chất chất đạm (1,5%), vitamin B và vitamin C, kali nitrat.

Hạt có 41,6%-45% (nhân) chất dầu, chất chất đạm. Nếu tính cả hạt và vỏ thì tỷ lệ chỉ là 20- 25%. Dầu hạt mướp đặc, màu nâu đỏ nhạt, mùi không đặc biệt, nhẹ.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.

cần lưu ý ngay là có 2 cây mang tên nhội. Cây thứ hai thuộc họ cỏ roi ngựa Verhenaceae, có danh pháp khoa học là Citharexylon quadrangulare Jacq.

Mô tả cây

Description: https://www.dieutri.vn/upload/cay-thuoc/cay-nhoi.gif

Cây nhội

Nhội là một cây to, có thể cao tới hơn 20m. Lá kép gồm 3 lá chét hình bầu dục hay hình mác rộng, mép có răng cưa tù dài 8-15cm, đầu lá chét nhọn, đáy lá chét cũng nhọn; cuống chung dài tới 7-10cm. Cụm hoa mọc ở kẽ lá. Hoa đơn tính, khác gốc, nhỏ, màu lục nhạt; hoa đực có 5 lá đài, 5 nhị; hoa cái cũng có 5 lá đài; bầu 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Quả thịt, hình cầu, đường kính 1-1,5cm, màu nâu hay hồng nhạt, vị chát, chứa 2-3 hạt màu nâu; vỏ quả trong dai. Mùa hoa: cuối xuân đầu hạ.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây nhội được trồng lấy bóng mát ở nhiều thành phố nước ta, nhiều nhất ở Hà Nội. Còn thấy mọc dại trong rừng. Cũng thấy phân bố ở Ân Độ, MaLaixia, InĐônêxia, Châu Đại Dương.

phổ biến người ta khai thác lấy gỗ nhội màu đỏ nhạt, cứng chắc làm cột nhà, chày giã gạo, ván sàn, tuy nhiên vì gỗ này thường bị sâu bọ ăn bởi vậy chỉ được coi là loại gỗ hồng sắc, độ bền không quá 20 nãm. Lá nhội non thường sử dụng để ăn gỏi cá. Trước đây ít thấy sử dụng làm thuốc. bây giờ người ta bắt đầu dùng lá làm thuốc. Có thể hái quanh năm suốt tháng, nhưng tốt nhất vào lúc cây đang ra hoa. Quả có thể ăn được; chim rất ưa.

thành phần hóa học

Chưa thấy có tài liêu nghiên cứu.

Tác dụng dược lý và liều dùng

Năm 1963, Bộ môn ký sinh trùng Trường Đại học y dược Hà Nội nghiên cứu có hệ thống những vị thuốc có khả năng trừ giun sán và các ký sinh trùng khác, phát hiện thấy lá nhội có tác dụng rất mạnh đối với trùng roi (Trichomonas vaginalis), đã áp dụng điều trị thử nghiệm bệnh tiêu chảy của khỉ do lỵ trực trùng, kết quả khỏi đạt 88% trên người, sử dụng chữa bạch đới do trùng roi, kết quả rất nhiều triển vọng. Độc tính rất thấp.

Lá nhội non được sử dụng trong nhân dân làm món ăn (gỏi cá).

ngày nay đang dược sử dụng thí nghiệm rộng rãi trị bệnh ỉa chảykhí hư do trùng roi ãm đạo (trichomonas vaginalìs).

dùng dưới hình thức thuốc sắc hay chế thành cao. Ngày dùng 20-40g lá tươi, nấu với nước (200ml), uống thay nước. Hoặc có thể nấu thành cao như sau: 1kg lá nhội, nấu với nước nhiều lần; chiết lấy nước cô đạc còn 50 ml; bôi vào âm đạo những người bị bạch đới do trùng roi âm đạo.

Cần để ý nghiên cứu.

Chú thích: tại Việt Nam có mọc hoang và được trồng một loại thực vật nhội nữa có tên khoa học Citharexylon quadrangulare Jacq. Thuộc họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây này cũng là một loài thực vật to, cành vuông, lá đơn, khía răng cưa. Hoa trắng, mọc thành từng chùm thõng xuống. Quả hạch màu đỏ. Trồng làm cảnh, lấy bóng mát và lấy gỗ làm dàn. Như vậy muốn phân biệt chỉ cần chú ý một cây có lá kép bao gồm 3 lá chét, một bên lá mọc đơn. Cây nhội cho lá ăn gỏi và làm thuốc có cụm hoa thành chùy hình chóp, còn cây nhôi kia có cụm hoa thõng xuống.

Suckhoedoisong.vn – Cây nhội còn có tên thu phong, trọng dương mộc, cây quả cơm nguội… tên khoa học Bischofia trifoliata (Rixb) Hook. F. Hoặc Bischofia javanica Blume.

Họ Euphorbiaceae. Cây mọc hoang trong rừng và được đưa về thành phố lấy bóng mát. Ngọn, lá non cắt nhỏ, rửa kỹ xào hay nấu canh; một vài nơi dùng lá non ăn gỏi cá. Trước đây, cây ít được dùng làm thuốc. hiện nay được quan tâm nhiều.

Trong lá non có nước, protid, glucid, chất xơ, caroten, vitamin C; các triterpenoid: friedelin, friedelinol, epifriedelinol…; các flavonoid: quercetin, quercitrin fisetin và các dẫn chất; các steroid: stigmasterol, ß-sitosterol, ß-sitostenon. Trong vỏ thân chứa tanin, hạt chứa dầu thô. theo y học cổ truyền, cây nhội vị hơi cay, chát, tính mát; công dụng hành khí, hoạt huyết, tiêu thũng, đào thải độc.

Tại Trung Quốc, dùng vỏ thân, rễ cây trị phong thấp, đau xương; nghiên cứu lá cây điều trị bệnh ung thư đường tiêu hóa, ung thư bao tử, chữa viêm gan lây nhiễm, viêm phổi, viêm hầu họng, trẻ nhỏ cam tích. sử dụng ngoài trị mụn nhọt và lở ngứa… Ở Ấn Độ, người ta sử dụng dịch ép lá làm thuốc trị loét. Năm 1963, Bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Dược Hà Nội tìm thấy thấy lá nhội có tác dụng rất mạnh với trùng roi (Trichomonas), ứng dụng chữa cho phụ nữ bị khí hư do trùng roi âm đạo (Trichomonas vaginalis), ỉa chảy do trùng roi (Trichomonas), kết quả tốt. chính vì như vậy, cây này có giá trị trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho phụ nữ, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, nơi thảo dược phân bố tại. Ngoài điểm hay diệt ký sinh trùng nhanh, không gây cương tụ, không làm rát âm đạo và tỷ lệ hết bệnh tương đối cao (72%), cao lá có ưu thế hơn carbazol là sau khi khỏi nhiễm trùng roi, người mắc bệnh không bị nhiễm nấm âm đạo (Mycose vaginale).

Kinh nghiệm dân gian chữa trị bệnh phụ khoa

TS.BSCKII. Trần Lập Công – 09:22 28/08/2016 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Viêm phần phụ (viêm âm đạo, viêm loét cổ tử cung, viêm cổ tử cung, viêm khoang chậu…) y học cổ truyền gọi đới hạ.

Viêm phần phụ (viêm âm đạo, viêm loét cổ tử cung, viêm cổ tử cung, viêm khoang chậu…) y học cổ truyền gọi đới hạ. Chị em thường có triệu chứng bạch đới kéo dài như sợi tơ không dứt có khi rất hôi, có thể màu trắng (bạch đới) hoặc vẩn đục lờ lờ máu cá (xích đới). lý do gây bệnh thường do tỳ hư, can uất, thấp nhiệt,… sau đây là một vài phương thuốc trị xích bạch đới theo kinh nghiệm dân gian.

Bài thuốc uống

Bài 1: hoa râm bụt 15- 30g, đem sắc nước cho thêm 1/3 lượng rượu gạo, tất cả khoảng 100ml, sắc còn 50ml phân thành 2 lần uống trong ngày, tới khi nào đỡ thì thôi.

Bài 2: hoa mào gà trắng 15g cho vào 100ml nước sắc còn 50ml, uống chia làm 2 lần trong ngày.

Bài 3: ích trí nhân 90g sao muối, vỏ hầu nung 90g. tán thành bột thật mịn ngày sử dụng 9g với nước cháo uống vào buổi sáng.

Bài 4: hoa mào gà trắng 30g, rau sam 20g đưa vào nước vừa đủ sắc uống. hàng ngày 2- 3 lần.

Bài 5: đậu ván trắng 40g, vỏ thạch chi lựu 20g, lá trắc bách diệp 15g, nước vừa đủ sắc uống ngày 2- 3 lần.

Bài 6: mai mực 120g, hoa dâm bụt 30g, bồ công anh 30g, nước vừa đủ sắc uống ngày một thang, uống 2-3 lần.

Bài 7: rễ cây xích đồng nam (sao) 16g, rễ cây bạch đồng nữ (sao) 16g, rễ cây bồ cu vẽ (sao) 16g. Các vị hãm với 600ml nước còn 100ml. Uống 2 lần trong ngày.

Bài 8: kiếm thực (sao vàng) 100ml, cỏ sữa nhỏ lá 100g. Các vị hãm với 800ml nước còn 100ml uống trong ngày.

Thuốc rửa

Bài 1: lá nhội (lá bánh tẻ) 1.000g. Lá nhội rửa thật sạch nấu với 5 lít nước liên tục trong 8 giờ. Đem bỏ bã rồi tiếp tục đun cho đặc lại (vừa cô vừa quấy để tránh cháy) tới khi sánh đặc là được. Trước khi bôi rửa bộ phận sinh dục ngoài bằng nước đun lá trầu, hay nước phèn chua loãng. Sau đó đặt miếng gạc nhỏ mềm chấm vào dung dịch bôi vào chỗ viêm ngứa (bôi sâu âm đạo nếu ngứa trong sâu, không sợ độc hại gì).

Bài 2: vỏ rễ cây dâm bụt 200g hãm với 2 lít nước để rửa âm hộ hằng ngày.

Description: viem phan phuCây dâm bụt chẳng những là loại cây trồng làm cảnh mà rễ, lá và hoa đều được làm thuốc trị viêm phần phụ.

Bài 3: lá móng tay 30g, binh lang 10g, thương truật 20g, khô phàn (phèn phi) 8g, tô mộc 30g. Các vị đưa vào nồi, đổ 2.000ml nước đun sôi 15-20 phút. Gạn nước lọc sạch cho vào chậu để rửa và ngồi ngâm âm đạo, ngày 1-2 lần.

Bài 4: khổ sâm (lá) 12g, lá nhội 30g, thổ phục linh 20g, thương truật 12g, hoàng bá 12g. Các vị cho vào nồi, đổ 2.000ml nước vào đun sôi 15-20 phút. Gạn nước khoáng sạch cho vào chậu để rửa và ngồi ngâm âm đạo, ngày 1-2 lần.